VI | EN
Kiến tạo những giá trị mới của di sản
Lượt xem: 1
Di sản văn hóa là nơi lưu giữ ký ức lịch sử, tri thức, tín ngưỡng và những dấu ấn đặc trưng của một cộng đồng, một vùng đất, là hồn cốt của văn hóa dân tộc. Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 của Chính phủ nhìn nhận di sản như một nguồn lực quan trọng để phát triển kinh tế. Theo đó, bài toán không còn dừng lại ở việc làm thế nào để bảo tồn, mà là làm thế nào để biến di sản thành tài sản kinh tế, nhưng không làm mất đi các giá trị độc đáo, nguyên bản của di sản.

Chuyển hóa giá trị để phát huy nguồn vốn văn hóa

Một lễ hội, một hoa văn thổ cẩm, một tấm lụa, một chiếc bình gốm… không đơn thuần là một sản phẩm thủ công, mà chứa sau nó cả mỏ vàng tài nguyên bao gồm: Tri thức bản địa, kỹ năng thủ công, ký ức cộng đồng, những câu chuyện liên quan đến vùng đất, con người, các biểu tượng văn hóa. Đó chính là nguồn vốn được người dân tích lũy trong một thời gian dài, từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Tiến sĩ Nguyễn Thị Xuân Nga (Viện Khoa học xã hội vùng Trung Bộ và Tây Nguyên) cho rằng, quá trình biến di sản văn hóa thành tài sản kinh tế thực chất là một dạng chuyển hóa vốn. Cụ thể là biến vốn văn hóa được hình thành từ lịch sử và sáng tạo của cộng đồng thành vốn xã hội, vốn thương hiệu và vốn kinh tế. Có thể hình dung quá trình này giống như một vòng tuần hoàn: Di sản tạo ra bản sắc, bản sắc tạo ra sự khác biệt, sự khác biệt tạo ra giá trị thị trường, giá trị thị trường tạo ra thu nhập và việc làm, thu nhập tạo ra động lực để bảo tồn và bảo tồn là để tiếp tục tạo ra những giá trị mới của di sản.

Quá trình biến di sản văn hóa thành tài sản kinh tế thực chất là một dạng chuyển hóa vốn. Cụ thể là biến vốn văn hóa được hình thành từ lịch sử và sáng tạo của cộng đồng thành vốn xã hội, vốn thương hiệu và vốn kinh tế.

Tiến sĩ Nguyễn Thị Xuân Nga, Viện Khoa học xã hội vùng Trung Bộ và Tây Nguyên)

Để tạo ra một hệ sinh thái kinh tế từ nguyên liệu là di sản văn hóa, nhiều địa phương, làng nghề, doanh nghiệp đã thay đổi tư duy, cách làm, mang lại sinh kế cho nhiều người dân cũng như hiệu quả kinh tế lớn.

Thí dụ như làng dệt thổ cẩm Mỹ Nghiệp (tỉnh Khánh Hòa) - một làng nghề dệt vải truyền thống nổi tiếng: “Vốn” văn hóa của làng nghề không chỉ nằm trong những tấm vải, mà còn nằm ở hệ thống các hoa văn, mầu sắc, kỹ thuật dệt cũng như hệ thống các tri thức gắn với văn hóa Chăm độc đáo, có khả năng nhận diện cao mà các sản phẩm dệt công nghiệp khó có thể bắt chước.

Nắm bắt được điều này, nhiều doanh nghiệp ở địa phương đã bắt tay vào thiết kế các sản phẩm theo nhu cầu của thị trường. Những tấm vải dệt truyền thống được thiết kế thành khăn choàng, túi xách, ví, khăn trải bàn, chăn, thảm, trang phục thời trang rất được khách hàng ưa chuộng.

Việc giữ nguyên bản sắc văn hóa Chăm, nhưng thay đổi về công năng, kiểu dáng, cách tiếp cận người tiêu dùng đã mở rộng thị trường cho sản phẩm văn hóa. Hiện một số sản phẩm của làng nghề Mỹ Nghiệp đã được công nhận sản phẩm OCOP và được đưa lên các sàn giao dịch điện tử.

 
lua-van-phuc.jpg
Khách du lịch mua hàng tại một cửa hàng giới thiệu sản phẩm làng nghề dệt lụa Vạn Phúc. (Ảnh: Báo Nhân Dân)

Làng lụa Vạn Phúc (Thành phố Hà Nội) những năm gần đây đã đẩy mạnh ứng dụng công nghệ, biến giá trị văn hoá thành giá trị kinh tế cao. Nhờ xây dựng một hệ sinh thái kết nối làng nghề với du lịch, thương mại và thiết kế, Vạn Phúc đón hàng chục nghìn lượt khách nước ngoài đến tham quan mỗi năm.

Du khách đến Vạn Phúc không chỉ để mua sắm, mà còn để trải nghiệm những câu chuyện được kể một cách khéo léo, thu hút thông qua các hình ảnh sống động từ lao động, kỹ thuật dệt vải của nghệ nhân.

Tại đây cũng đã hình hành một Trung tâm thiết kế sáng tạo, mục đích kết nối kỹ thuật truyền thống với những thiết kế mới, vừa giới thiệu với du khách, vừa chào hàng các đối tác trong và ngoài nước.

Ở một làng nghề truyền thống, nếu chỉ bán sản phẩm thủ công ở quy mô nhỏ, giá trị kinh tế chủ yếu nằm trong sản phẩm, nhưng khi kết hợp các thiết kế hiện đại và đầu tư xây dựng thương hiệu, tổ chức không gian trải nghiệm, phát triển du lịch, thương mại điện tử và mở rộng thị trường ra ngoài nước, giá trị kinh tế của di sản có thể tăng lên gấp nhiều lần.

Tạo giá trị gia tăng cho di sản đôi khi không nhất thiết là sản xuất nhiều hơn, mà là hiểu sâu hơn về di sản, tổ chức tốt hơn chuỗi giá trị chung quanh nó. Nghĩa là chúng ta phải biết kể chuyện về di sản, để người tiêu dùng hiểu rằng sản phẩm họ sử dụng được tạo ra bằng kỹ thuật lâu đời, được làm thủ công bởi nghệ nhân cụ thể, mang đặc trưng của một vùng văn hóa…

gom-my-nghiep.png
Trong ảnh: Dệt thổ cẩm của đồng bào Chăm, làng nghề Mỹ Nghiệp, tỉnh Khánh Hòa. (Ảnh: Hạ Du/Báo Nhân Dân)

Người dân được hưởng lợi gì từ di sản?

Sự gia tăng giá trị kinh tế của di sản chỉ thật sự có ý nghĩa khi nó tạo ra lợi ích xứng đáng cho những người đang duy trì di sản, là những nghệ nhân, những người thợ, những người lao động tham gia chuỗi giá trị này. Bởi họ là những chủ thể sáng tạo ra di sản, sở hữu kỹ năng, lưu giữ nghề, nắm giữ tri thức truyền thống và có khả năng truyền dạy cho những thế hệ tiếp theo.

 

Có một bất cập không khó để nhìn ra, là một số di sản trở thành điểm đến của du lịch, một số sản phẩm văn hóa truyền thống địa phương trở thành cảm hứng cho các sản phẩm sáng tạo, thương mại… nhưng lợi ích kinh tế không tìm đến những chủ thể đầu tiên, là những người sáng tạo, gìn giữ di sản.

Khi cộng đồng trở thành người cung cấp “nguyên liệu văn hóa” nhưng lại không được hưởng lợi ích thì quá trình kinh tế hóa di sản về mặt bản chất chỉ là khai thác văn hóa mà không phải phát triển văn hóa.

Theo Tiến sĩ Trần Kim Bá (Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam), cộng đồng sáng tạo di sản phải được xem là chủ thể kinh tế của quá trình phát triển di sản. Lợi ích trực tiếp chính là thu nhập. Nghệ nhân có nguồn thu từ việc bán sản phẩm, truyền dạy kỹ thuật, các hộ gia đình phát triển dịch vụ lưu trú, ẩm thực, vận chuyển sản phẩm. Những người trẻ trong cộng đồng có việc làm từ các khâu thiết kế, truyền thông, quản lý du lịch, thương mại điện tử và các ngành công nghiệp sáng tạo. Kinh tế hóa di sản phải bắt đầu từ việc giữ chân những người làm di sản, tạo động lực để họ tiếp tục gắn bó và phát triển văn hóa tại địa phương. Ở cấp độ cộng đồng, lợi ích còn có thể được tạo ra thông qua đầu tư vào hạ tầng, giáo dục, không gian văn hóa và các dịch vụ công cộng.

tho-cam-pu-luong-5624.jpg
Ảnh minh họa. (Nguồn: Craft Link)

Craft Link là mô hình doanh nghiệp xã hội phi lợi nhuận và công bằng thương mại, hỗ trợ các làng nghề truyền thống trong khôi phục văn hóa, phát triển sản phẩm thủ công và tăng thu nhập cho cộng đồng. Craft Link hỗ trợ các nhóm nghệ nhân dân tộc thiểu số phát triển sản phẩm, thiết kế, marketing và mở rộng thị trường, đồng thời hướng tới cải thiện sinh kế của người sản xuất.

Các dự án của tổ chức này tại làng nghề Lùng Tám (tỉnh Tuyên Quang), Hoa Tiến (tỉnh Nghệ An), Pà Cò (tỉnh Phú Thọ)… đang giúp cho nhiều người dân địa phương khôi phục, giữ gìn các kỹ thuật dệt và thêu cổ, có thu nhập đủ để sống, tiếp tục sáng tạo các giá trị mới.

 

Để tài nguyên văn hóa thật sự trở thành tài sản kinh tế nhưng vẫn giữ được hồn cốt của di sản, người dân vùng di sản phải có chỗ đứng vững chắc trong chuỗi giá trị. Di sản không thể là nguyên liệu giá rẻ cho nhà thiết kế hay doanh nghiệp khai thác, mà người dân phải được tham gia vào các khâu như nghiên cứu, thiết kế, thử nghiệm sản phẩm.

Cộng đồng sáng tạo di sản phải được xem là chủ thể kinh tế của quá trình phát triển di sản. Lợi ích trực tiếp chính là thu nhập. Kinh tế hóa di sản phải bắt đầu từ việc giữ chân những người làm di sản, tạo động lực để họ tiếp tục gắn bó và phát triển văn hóa tại địa phương. Ở cấp độ cộng đồng, lợi ích còn có thể được tạo ra thông qua đầu tư vào hạ tầng, giáo dục, không gian văn hóa và các dịch vụ công cộng.

Tiến sĩ Trần Kim Bá, Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam

Theo bà Y Dưh Êung, chủ hộ kinh doanh sản phẩm truyền thống, buôn Jun, xã Liên Sơn Lăk (tỉnh Đắk Lắk), tiếng nói của cộng đồng phải được tôn trọng trong cách sử dụng các biểu tượng văn hóa, có thỏa thuận rõ ràng về bản quyền, lợi nhuận. Minh bạch chuỗi giá trị nằm ở việc công khai giá bán sản phẩm, chi phí sản xuất, nghệ nhân nhận bao nhiêu, cộng đồng được tái đầu tư bao nhiêu. Trong xây dựng thương hiệu và sở hữu trí tuệ, phải có dấu hiệu nhận diện di sản, tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm rõ ràng, có mã truy xuất nguồn gốc. Với một sản phẩm truyền thống thì hoa văn, kỹ thuật dệt, tri thức của nghệ nhân chính là phần tài sản đặc biệt nhất cần được bảo vệ.

Khi một nghề truyền thống trở nên có giá trị trên thị trường, kỹ năng của người dân cần được định giá lại. Một kỹ thuật có thể trở thành năng lực tạo ra sản phẩm giá trị cao. Một nghệ nhân không chỉ “giữ lửa” mà có thể trở thành nhà sáng tạo và có thu nhập tốt, có vị thế xã hội và là hình ảnh truyền động lực cho lớp trẻ trong lựa chọn học nghề, quyết định gắn bó với di sản mà không rời khỏi cộng đồng tìm nghề khác.

VŨ QUỲNH TRANG
Nguồn bài viết: Báo Nhân dân
Tin khác
1 2 3 4 5 
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1